Chi Lăng, Lạng Sơn tự hào là một vùng đất biên thùy giàu truyền thống, nơi lịch sử ngàn năm vẫn còn vang vọng qua từng di tích và lễ hội. Trong số đó, lễ hội Đình Làng Mỏ tại vùng đất xưa Quang Lang, nay là thị trấn Đồng Mỏ, là một minh chứng sống động cho bản sắc văn hóa kiên cường của người dân địa phương. Thời tiết quang lang luôn đóng vai trò quan trọng trong nhịp sống và các hoạt động văn hóa tại đây.
Chi Lăng Lạng Sơn – Bản Sắc Văn Hóa Vùng Biên Thùy
Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn không chỉ là một địa danh mang ý nghĩa chiến lược quân sự quan trọng mà còn là một kho tàng di sản văn hóa phong phú. Nơi đây từng là cửa ngõ kinh đô đất Việt, chứng kiến vô vàn biến cố lịch sử hào hùng qua các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Sự trường tồn của những giá trị văn hóa này đã định hình nên một bản sắc rất riêng, đậm chất biên thùy và kiên cường, nơi con người luôn sống hòa mình cùng thiên nhiên và các phong tục cổ truyền.
Các di tích và lễ hội tại Chi Lăng không chỉ là những dấu ấn của quá khứ mà còn là sợi dây kết nối mạnh mẽ giữa các thế hệ. Chúng thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên, các vị anh hùng đã có công dựng nước và giữ nước. Qua hàng trăm năm, dù trải qua bao thăng trầm, những nét đẹp văn hóa này vẫn được gìn giữ, trở thành niềm tự hào của người dân Lạng Sơn, đặc biệt là những cư dân gắn bó với mảnh đất Chi Lạng anh hùng.
Lễ Hội Đình Làng Mỏ: Gìn Giữ Hồn Quê Quang Lang
Khi đặt chân đến vùng đất anh hùng Quang Lang – thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng lịch sử ngày nay, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những di sản văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc vẫn còn lưu giữ trọn vẹn. Lễ hội Đình Làng Mỏ là một trong những lễ hội tiêu biểu nhất, diễn ra vào ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Đây là dịp để nhân dân (xã Quang Lang xưa) thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn mở hội xuống đồng, thực hiện các nghi thức truyền thống như hạ cây nêu ngày Tết và cúng lễ tại Đình Làng Mỏ (Khu Hữu Nghị) cùng Đền Cấm (khu Hòa Bình).
Lễ hội không chỉ là một sự kiện văn hóa mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, là cầu nối giữa hiện tại và quá khứ. Nó thể hiện sự biết ơn của người dân đối với các vị thần linh, cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no. Sự duy trì và phát triển của lễ hội Đình Làng Mỏ là minh chứng cho sức sống bền bỉ của văn hóa truyền thống trên mảnh đất Chi Lăng giàu lịch sử này.
Xem Thêm Bài Viết:
- Khám Phá Toàn Diện Về Hoa Đào – Biểu Tượng Tết
- Từ Nghệ An Đến Huế Bao Nhiêu Km? Hướng Dẫn Chi Tiết Về Khoảng Cách & Hành Trình
- Công Thức Làm Chè Khúc Bạch Bằng Whipping Cream Béo Ngậy Tại Nhà
- Giá vé Dinh Bảo Đại: Thông tin chi tiết và hướng dẫn mua vé
- Những Bông Hoa Những Bài Ca: Bài Hát Thiếu Nhi Về Tình Thầy Trò
thời tiết quang lang, chi lăng, lạng sơn
Nguồn Gốc Sâu Sắc Của Lễ Hội Đình Làng Mỏ Quang Lang
Lễ hội Đình Làng Mỏ có nguồn gốc lâu đời, gắn liền với những câu chuyện lịch sử và truyền thuyết địa phương tại vùng đất Quang Lang – thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng. Nó không chỉ tưởng nhớ các vị thần linh mà còn tôn vinh những tấm gương anh dũng, liêm khiết, đã có công với dân làng và đất nước. Sự ra đời và tồn tại của lễ hội là kết quả của lòng thành kính và mong muốn truyền đời những giá trị đạo đức cao đẹp cho thế hệ sau.
Lư Văn Lá: Vị Quan Liêm Khiết Từ Đất Chi Lăng
Chuyện kể rằng, tại Thôn Đông Mồ thuộc xã Quang Lang xưa có một vị quan triều đình nổi tiếng thanh liêm, chính trực tên Lư Văn Lá. Một năm nọ, khi ông trở về từ chuyến đi sứ, ông nghe dân làng than phiền về tội lỗi của con trai mình. Cậu bé 16 tuổi trong lúc chăn trâu đã nghịch ngợm ném cành gai găng xuống vực lốc – nơi trẻ nhỏ thường tắm, dẫn đến cái chết của 6 trẻ trong làng. Vô cùng tức giận và đau lòng, quan Lư Văn Lá đã tự mình thi hành án, buộc con trai phải nhảy xuống dòng sông Thương. Người vợ vì quá thương con cũng gieo mình theo.
Sau biến cố đau lòng đó, ông đề nghị với dân làng cho cởi áo từ quan và chọn Đền Cấm làm nơi quy tiên. Cảm kích trước tấm lòng chính trực và sự hy sinh cao cả của ông, dân làng đã xây đền thờ ngay tại nơi ông mất, chính là Đền Cấm ngày nay. Ngài được sắc phong vào ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) với danh hiệu “Sắc cho thôn Lang Mỏ xã Quang lang tổng Quang lang châu Ôn tỉnh Lạng Sơn phụng thờ Tăng sơn Chung anh Mỏ nha Hiển linh Tôn Thần. Thần đã giúp nước giúp dân, tỏ rõ linh ứng, từng được ban cấp sắc phong, chuẩn cho phụng thờ. Nay đúng dịp tứ tuần đại khánh tiết của trẫm, vậy ban chiếu ân lớn, lễ có nâng bậc, nên phong Tú nghi Dực bảoTrung hưng tôn thần, chuẩn cho phụng thờ. Thần hãy giúp đỡ, bảo hộ dân ta, hãy nhận” (Theo tài liệu TT-TS FQ4018/ xxx ll,5 Viện TTKHXH TTTS: 17151). Ông trở thành một vị thần linh bảo hộ cho cuộc sống bình an của người dân địa phương.
Ông Đại Huề: Thủ Lĩnh Chống Quân Minh, Gìn Giữ Đất Lạng Sơn
Bên cạnh Đền Cấm, Đình Làng Mỏ lại là nơi thờ ông Đại Huề – một vị thủ lĩnh người bản địa đã có công lớn trong việc tham gia chống quân Minh cùng triều Lê tại vùng đất Quang Lang – Chi Lăng. Thông tin này được truyền khẩu qua nhiều thế hệ, như lời kể của cụ ông Lô Thế Minh, nguyên cán bộ Ban Tuyên giáo huyện Chi Lăng, 89 tuổi tại xã Quang Lang. Ông Đại Huề là biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí quật cường của người dân vùng biên thùy Lạng Sơn.
Ngày mùng 7 tháng Giêng hàng năm, dân làng Quang Lang xin phép cả hai vị thần linh để mở hội xuống đồng. Đây là thời điểm chuẩn bị bước vào mùa vụ mới, do đó, lễ hội mang ý nghĩa cầu mong một năm thuận lợi, mùa màng bội thu, giúp bà con an tâm sản xuất. Lễ hội Đình Làng Mỏ đã tồn tại từ rất lâu đời, tuy nhiên, do điều kiện khách quan và chủ quan trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp và Mỹ, việc tổ chức lễ hội đã bị mai một và không được duy trì đều đặn. Đình Làng Mỏ cũng bị chiến tranh phá hủy vào năm 1968. Mãi đến sau năm 2000, tục cúng xuống đồng tại Đền Cấm mới được duy trì trở lại. Sau năm 1998, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8 của Đảng, cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, các di sản văn hóa dần được bảo vệ. Năm 2015, Lễ hội Đình Làng Mỏ đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn phục dựng theo chương trình mục tiêu quốc gia, đánh dấu sự trở lại của một nét đẹp văn hóa truyền thống, làm nức lòng người dân địa phương và những người con xa quê hương Chi Lăng.
Nghi Thức Lễ Hội Đình Làng Mỏ: Hài Hòa Giữa Truyền Thống Và Cuộc Sống
Lễ hội Đình Làng Mỏ được chia thành hai phần chính: Phần Lễ và Phần Hội, mỗi phần đều có những nét độc đáo riêng, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần và văn hóa của người dân Chi Lăng, Lạng Sơn.
Phần Lễ: Giao Cảm Cùng Các Vị Thần Linh
Công tác chuẩn bị cho phần lễ đòi hỏi sự chu đáo về cả nhân lực và vật lực. Ban Tổ chức lễ hội được thành lập do UBND thị trấn Đồng Mỏ (xã Quang Lang cũ) quản lý, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên. Đặc biệt, Ban tế lễ (Quan viên tế lễ) bao gồm 1 ông lềnh trưởng, 4 ông phụ (gọi là góa) trong độ tuổi từ 49 đến 50, cùng 4 thanh niên chưa vợ (17 tuổi). Ngoài ra còn có đội rước cờ, rước kiệu và đội giúp việc. Về vật lực, kinh phí tổ chức lễ hội do nhân dân địa phương đóng góp, kiệu được lau chùi cẩn thận, cờ quạt được bổ sung hoặc giặt sạch, trang phục và nhạc cụ (trống, chiêng) phục vụ tế lễ và rước kiệu cũng được chuẩn bị kỹ càng.
Về lễ vật cúng tế, các gia đình thay phiên nhau đóng góp phần lễ chung của cả làng theo hình thức “cắt cay lần”, và các suất đinh đóng góp để mổ 1 con lợn. Mỗi gia đình còn chuẩn bị một mâm cúng riêng, tùy theo khả năng kinh tế. Sáng sớm mùng 7 tháng Giêng, các đoàn đã được phân công sẽ tổ chức đi rước dưới sự chỉ huy của 1 ông lềnh. Dân làng chuẩn bị 2 cỗ xôi, 2 con gà để cúng tại Đình Làng Mỏ và Đền Cấm, nhằm xin phép mở hội và rước các Ngài ra vui hội cùng dân làng. Đoàn rước chính sẽ cúng ở Đình Làng Mỏ trước để rước ngai ông Đại Huề ra kiệu, sau đó vòng sang Mỏ Bạo để rước Bà Nàng (hai người con gái của ông Đại Huề), rồi sang Đền Cấm (khu vực đền xưa yên tĩnh, mát dịu với những gốc xoài và vải rừng cổ thụ hai người ôm. Ở khu vực đền thì chỉ 3 giờ chiều là không có ánh nắng do dãy núi đá Cai Kinh che ở phía tây. Dòng suối sau khi chảy qua bên cạnh bia “hạ mã” thì mở rộng ra cạnh sân vận động với gờ tường ngang ngực rồi lượn vòng quanh các vườn rau. Không khí luôn nhẹ nhàng, mát dịu và gió nhẹ) để rước sắc phong của ông Lư Văn Lá. Cả hai vị thần sẽ được đặt chung trên 1 kiệu, sắc phong và ngai được phủ vải đỏ, có lọng che trang trọng.
thời tiết quang lang, chi lăng, lạng sơn
Nghè Ao Làng và Nghè Khun Phang có nhánh rước nhỏ hơn, chỉ rước bát hương mà không có kiệu. Kiệu rước hai ông và bàn rước bát hương đều do con trai chưa vợ đảm nhiệm (mỗi nhánh 4 người), con gái khoảng 15 tuổi, chưa chồng sẽ cầm cờ. Mỗi đoàn rước còn có 1 cái trống và thanh la vừa đi vừa đệm nhạc, tạo không khí tươi vui cho đoàn rước. Thời gian rước kéo dài khoảng 1 tiếng rưỡi đến 2 tiếng. Sau khi kết thúc hội, dân làng sẽ rước các Ngài trở về các Đình, Đền, Miếu. Các đoàn rước hội tụ tại bãi trước Đền Cấm, gọi là Nà Phẹc (hay cánh đồng Nà Đon), hoặc một vài năm thì lại được tổ chức ở Ao nhà (gần Đình Làng Mỏ – Nà Coóc – khu Đông Mồ hiện nay), tùy thuộc vào thời tiết quang lang và điều kiện tổ chức.
Lễ Tế Ngoài Đồng và Nghi Thức Nhập Đồng Độc Đáo
Tại bãi hội ngoài đồng, dân làng sắp mâm tế lễ giữa trời với cỗ chung và cỗ riêng, bao gồm gà, xôi, rượu (đặc biệt không có thịt lợn). Lễ chung được gọi là “cay lần” (tiếng dân tộc Tày), được các nhà lần lượt đóng góp để sau khi cúng xong sẽ phân phối cho các ông phục vụ lễ hội. Lễ riêng là mỗi gia đình chuẩn bị một cỗ to, trang trọng, đầy đủ các món ăn với các nguyên liệu sẵn có, đặc sản của địa phương để tham gia thi cỗ. Các mâm cỗ thi thường có từ 12 đến 15 món ăn, thể hiện sự khéo léo và tấm lòng của người dân. Sau khi cúng lễ và thi xong, nếu có khách sẽ mời khách dùng bữa, nếu không thì mang cỗ về chứ không tổ chức ăn uống ngoài đồng.
Ban tế lễ ở dưới đồng khoảng 4 đến 8 người, bao gồm 1 ông lềnh, 4 ông góa và 4 thanh niên chưa vợ phụ giúp tổ chức cúng tế. Đồng thời, dân làng cũng chuẩn bị một cái bàn và có 1 ông đồng để nhập hồn. Ông đồng phải là người vía nhẹ, khoác khăn đỏ trên vai và bắt đầu nhập đồng (Thánh nhập) để phán dân tình làm ăn, dự đoán mùa màng. Nghi thức này mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, giúp dân làng chuẩn bị tốt hơn cho vụ mùa mới, đặc biệt khi thời tiết quang lang có thể thay đổi thất thường. Việc hạ lễ ngoài đồng thường diễn ra vào khoảng 4 giờ chiều, thời điểm này cũng được cân nhắc dựa trên thời tiết quang lang của ngày hội. Trên Đình Làng Mỏ, Ban tế lễ khoảng 12 người, đứng thành 3 hàng, đều có tuổi từ 51 trở lên (Ban tế lễ này không tham gia tế lễ ngoài cánh đồng). Lễ vật là 1 thủ lợn luộc được tế trên điện cao nhất, thân lợn được chế biến thành các cỗ, cùng với đủ các bộ phận bên trong và xôi, rượu đặt ở các ban thờ khác (khoảng 7 – 8 cỗ). Con lợn này do dân làng đóng góp, sau khi làm cỗ để đặt lễ, phần còn lại sẽ được chia đều cho các suất đinh, nhà nào không tới dự cũng sẽ được mang đến tận nhà. Ở Đền Cấm và Đền Mỏ Bạo chỉ đặt cỗ xôi con gà chứ không tổ chức tế lễ, mặc dù ngày nay cuộc sống hưng thịnh hơn nên lễ vật cũng nhiều hơn.
thời tiết quang lang, chi lăng, lạng sơn
Phần Hội: Tưng Bừng Sắc Màu Truyền Thống
Phần hội của lễ hội Đình Làng Mỏ là nơi thể hiện sự gắn kết cộng đồng và tinh thần vui tươi, lạc quan của người dân. Công tác chuẩn bị cho phần hội cũng được tổ chức kỹ lưỡng với tiểu ban tổ chức trò chơi, đội chuẩn bị dụng cụ, sân bãi, câu hỏi và phần thưởng. Sân bãi rộng rãi được chuẩn bị để tổ chức các trò chơi dân gian, trong đó nổi bật nhất là trò “Ném Còn”.
Quả “còn” có hình cầu to bằng nắm tay trẻ nhỏ, được khâu bằng nhiều múi vải màu sắc rực rỡ, bên trong nhồi thóc và hạt bông – biểu tượng cho sự no ấm (thóc nuôi sống con người, bông cho sợi dệt vải). Quả còn có các tua vải nhiều màu vừa trang trí vừa giúp định hướng khi bay. Sân ném còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn một cây tre hoặc vầu cao, trên đỉnh có “vòng còn” hình tròn (khung còn). Khung còn một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng). Cả mặt giấy là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái. Người chơi đứng đối mặt nhau qua cây còn, ném quả còn lọt qua vòng còn trên đỉnh cột là thắng cuộc. Trò Ném Còn không chỉ thu hút nam nữ thanh niên mà cả nhiều người lớn tuổi cũng hào hứng tham gia. Tiếng hò reo cổ vũ khiến không khí cuộc chơi vô cùng sôi nổi, hấp dẫn. Trò vui này mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong giao hòa âm – dương, mùa màng tươi tốt, phản ánh sự phụ thuộc vào thời tiết quang lang để có vụ mùa bội thu. Ngoài ra, vào một số năm, dân làng còn mời các đoàn hát Chèo (nhà tơ) về biểu diễn, làm phong phú thêm không khí lễ hội.
thời tiết quang lang, chi lăng, lạng sơn
Giá Trị Bền Vững Và Sự Phát Triển Của Lễ Hội Đình Làng Mỏ
Lễ hội Đình Làng Mỏ là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân Chi Lăng, Lạng Sơn. Việc tổ chức lễ hội không chỉ bảo lưu và trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống mà còn góp phần xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Lễ hội khơi dậy và phát huy tiềm năng, giá trị di sản văn hóa, hướng tới hình thành một số vùng không gian văn hóa – di sản tiêu biểu. Nó cũng thúc đẩy việc xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Bên cạnh đó, lễ hội còn huy động các nguồn lực để đầu tư, quản lý, bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, dịch vụ, an ninh, quốc phòng và giao lưu đối ngoại. Sự kiện này là một điểm nhấn du lịch văn hóa quan trọng, thu hút du khách đến với Chi Lăng, Lạng Sơn, tìm hiểu về phong tục tập quán và sự kiên cường của người dân nơi đây. Dù thời tiết quang lang có thay đổi ra sao, lễ hội vẫn là minh chứng cho sự đoàn kết và niềm tin của cộng đồng vào một tương lai tốt đẹp.
thời tiết quang lang, chi lăng, lạng sơn
Lễ hội Đình Làng Mỏ tại vùng đất Quang Lang lịch sử là một viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa của Chi Lăng, Lạng Sơn. Nó không chỉ là một nghi thức tâm linh mà còn là nơi giao thoa của lịch sử, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng, nơi những giá trị truyền thống được gìn giữ và phát huy qua bao thế hệ. Bất chấp những biến động của thời tiết quang lang và thời gian, lễ hội này vẫn là biểu tượng của sức sống bền bỉ và bản sắc văn hóa độc đáo. Trang web “Hoa Đào” tự hào mang đến những câu chuyện sâu sắc về văn hóa Việt Nam như vậy.
Câu Hỏi Thường Gặp Về Lễ Hội Đình Làng Mỏ
-
Lễ hội Đình Làng Mỏ diễn ra vào khi nào?
Lễ hội Đình Làng Mỏ được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 7 tháng Giêng âm lịch, tại thị trấn Đồng Mỏ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là thời điểm quan trọng để cầu mong mùa màng bội thu và cuộc sống an lành. -
Đình Làng Mỏ thờ ai và ý nghĩa của Đền Cấm?
Đình Làng Mỏ thờ ông Đại Huề, một vị thủ lĩnh người bản địa có công chống quân Minh. Còn Đền Cấm thờ quan Lư Văn Lá, một vị quan liêm khiết, chính trực của triều đình, người đã hy sinh vì sự công bằng. Cả hai nơi thờ cúng này đều có ý nghĩa to lớn trong đời sống tâm linh và lịch sử của người dân Quang Lang, Chi Lăng. -
Trò chơi Ném Còn trong lễ hội có ý nghĩa gì?
Trò chơi Ném Còn là một hoạt động sôi nổi trong phần hội, mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong giao hòa âm – dương, mùa màng tươi tốt. Quả còn được làm từ thóc và hạt bông, tượng trưng cho sự no ấm và thịnh vượng. -
Vai trò của thời tiết quang lang ảnh hưởng đến lễ hội như thế nào?
Thời tiết quang lang (thời tiết tại vùng Quang Lang, thị trấn Đồng Mỏ) đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động ngoài trời của lễ hội, đặc biệt là phần lễ tế ngoài đồng và các trò chơi dân gian. Mưa thuận gió hòa là điều kiện lý tưởng để lễ hội diễn ra suôn sẻ và mang lại niềm vui trọn vẹn cho cộng đồng. -
Lễ hội Đình Làng Mỏ đã được phục dựng lại như thế nào?
Sau thời gian bị mai một do chiến tranh, Lễ hội Đình Làng Mỏ đã được phục dựng lại từ năm 2015 dưới sự hỗ trợ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn theo chương trình mục tiêu quốc gia. Sự phục dựng này thể hiện ý chí gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.
